Trong chiến lược phát triển tổng thể của quốc gia, vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa và vùng biên giới luôn giữ một vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái. Đây là địa bàn sinh sống chủ yếu của đồng bào các dân tộc thiểu số, nơi còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống quý báu nhưng cũng là vùng có địa hình chia cắt phức tạp, kinh tế còn những điểm hạn chế. Trong hệ thống các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của vùng cao, giáo dục và đào tạo được xác định là quốc sách hàng đầu, là chìa khóa để giải quyết tận gốc vấn đề phát triển kinh tế và an sinh xã hội. Phát triển giáo dục miền núi không chỉ đơn thuần là việc dạy chữ, nâng cao dân trí mà còn là quá trình chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao tại chỗ, tạo nền tảng vững chắc để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tiếp thu khoa học kỹ thuật phục vụ chính địa bàn vùng miền núi.
Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho sự nghiệp giáo dục vùng miền núi. Chính quyền và nhân dân các dân tộc đã nỗ lực vượt bậc để chăm lo, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho giáo dục miền núi phát triển có những bước chuyển mình quan trọng. Bên cạnh những mặt tích cực đạt được, trước những yêu cầu ngày càng cao của công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, giáo dục miền núi đang bộc lộ những rào cản nội tại và đối mặt với nhiều thách thức mới. Chính vì vậy, nghiên cứu, đánh giá một cách khách quan, toàn diện thực trạng giáo dục miền núi để từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, có tính khả thi cao và phù hợp với thực tiễn hiện nay là một yêu cầu cấp bách, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc.
Trong khuôn khổ nội dung bài viết này, tôi phân tích toàn diện, những thành tựu cũng như những hạn chế, thách thức cốt lõi của giáo dục miền núi tại Việt Nam. Bài viết hướng tới việc đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ, xuyên suốt từ phương diện vĩ mô (hoàn thiện cơ chế chính sách, đầu tư nguồn lực hạ tầng) đến cải tiến phương pháp sư phạm đặc thù, tăng cường năng lực ngôn ngữ, huy động sự tham gia của cộng đồng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đảm bảo tính bền vững và sự bình đẳng trong tiếp cận giáo dục cho học sinh vùng miền núi trong giai đoạn hiện nay.
Những thành tựu và chuyển biến tích cực của giáo dục miền núi
Nhờ vào sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị và sự nỗ lực vượt khó của đội ngũ nhà giáo, giáo dục miền núi đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, làm thay đổi sâu sắc diện mạo văn hóa – xã hội của các bản làng vùng cao.
Thành tựu nổi bật đầu tiên phải kể đến là quy mô mạng lưới trường, lớp học được quy hoạch, ổn định và mở rộng một cách khoa học. Từ chỗ nhiều bản làng trắng về giáo dục mầm non hoặc tiểu học, đến nay hệ thống trường lớp đã vươn dài, cắm sâu đến tận các thôn, bản vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới hẻo lánh giúp giảm thiểu khoảng cách di chuyển, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho học sinh đi học. Sự phát triển này từng bước đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao và đa dạng của nhân dân các dân tộc, xóa bỏ định kiến về sự cách biệt địa lý đối với quyền tiếp cận giáo dục. Công tác huy động trẻ em trong độ tuổi ra lớp có bước chuyển biến mang tính bước ngoặt. Tỷ lệ trẻ em mẫu giáo và học sinh tiểu học đi học đúng độ tuổi đạt tỷ lệ cao và duy trì ổn định qua các năm. Đây là một nỗ lực phi thường trong bối cảnh nhận thức của một bộ phận người dân vùng cao về giáo dục trước đây còn nhiều hạn chế. Đặc biệt, các tỉnh miền núi đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục trung học cơ sở (THCS). Kết quả này góp phần nâng cao dân trí, là công cụ hữu hiệu nhất để chống mù chữ và tái mù chữ, tạo tiền đề để triển khai các bậc học cao hơn và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho địa phương.
Việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc và kịp thời các chế độ, chính sách đối với nhà giáo và học sinh, sinh viên vùng khó khăn. Các chính sách miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập, cấp gạo, hỗ trợ tiền ăn, tiền ở bán trú cho học sinh dân tộc thiểu số đã được triển khai sâu rộng. Đối với đội ngũ nhà giáo, các chế độ phụ cấp thu hút, phụ cấp đặc biệt, phụ cấp đứng lớp vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn được chi trả đúng, đủ. Chính sự chăm lo về mặt vật chất này đã trở thành nguồn động viên to lớn, giúp học sinh an tâm bám trường, giúp thầy cô an tâm cắm bản, cống hiến cho sự nghiệp trồng người. Cơ sở vật chất trường, lớp học được đầu tư xây dựng một cách bài bản, bộ mặt học đường vùng cao có sự thay đổi rõ rệt. Nhiều dự án lớn và các chương trình mục tiêu quốc gia (như Chương trình 135, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi) được ưu tiên bố trí vốn để xây dựng các phòng học kiên cố, thay thế các phòng học tranh tre, nứa lá tạm bợ. Thiết bị giáo dục, phòng máy tính, phòng thí nghiệm từng bước được tăng cường. Sự chuyển biến này không chỉ tạo ra môi trường học tập an toàn, khang trang cho học sinh mà còn nâng cao vị thế của nhà trường trong đời sống văn hóa của cộng đồng địa phương.
Những hạn chế và thách thức cốt lõi
Bên cạnh những mảng sáng mang tính nền tảng, giáo dục miền núi hiện nay vẫn phải đối mặt với những hạn chế sâu sắc. Đây là những nút thắt cản trở sự phát triển đi lên về chất của giáo dục vùng cao.
Mặc dù số lượng học sinh ra lớp tăng và đạt chuẩn phổ cập về mặt cơ học, nhưng chất lượng giáo dục thực tế tại các cấp học, bậc học vẫn còn ở mức thấp so với mặt bằng chung của cả nước. Hiện tượng học sinh ngồi nhầm lớp, đọc thông viết thạo nhưng khả năng tư duy logic, áp dụng kiến thức vào thực tiễn còn rất hạn chế.. Một thực trạng nhức nhối là tỷ lệ học sinh bỏ học ở bậc trung học còn cao, đặc biệt là học sinh các trường trung học phổ thông (THPT) ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này rất đa dạng và phức tạp: Học sinh ở độ tuổi THPT là nguồn lao động quan trọng của gia đình, áp lực mưu sinh khiến các em phải nghỉ học để phụ giúp cha mẹ làm nương rẫy hoặc đi làm thuê tại các khu công nghiệp. Các trường THPT thường tập trung ở trung tâm huyện, khoảng cách từ nhà đến trường quá xa, địa hình đồi núi hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, đặc biệt vào mùa mưa bão. Ở một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhiều em học sinh nữ phải lập gia đình sớm, chấm dứt con đường học tập khi tuổi đời còn rất trẻ.
Công tác hướng nghiệp, thực hiện phân luồng học sinh sau THCS và THPT tại miền núi thực hiện chưa đạt hiệu quả, còn nhiều hạn chế và bất cập. Tỷ lệ học sinh sau khi tốt nghiệp đi học nghề còn rất thấp. Hệ thống các trường trung cấp nghề, trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên tại các huyện miền núi vừa thiếu về số lượng, vừa hạn chế về chất lượng đào tạo. Ngành nghề đào tạo chưa sát với nhu cầu thực tế của thị trường lao động và đặc thù phát triển kinh tế địa phương. Bản thân học sinh và gia đình vẫn mang nặng tâm lý chuộng bằng cấp, hoặc nếu không học lên đại học thì sẽ về quê làm nông nghiệp thuần túy chứ không lựa chọn học nghề, dẫn đến tình trạng lãng phí nguồn lao động trẻ. Sự chênh lệch về chất lượng giáo dục giữa miền núi và miền xuôi được phản ánh một cách trực quan và sâu sắc qua điểm chuẩn tuyển sinh vào lớp 10 THPT. Điểm chuẩn của các trường THPT vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số luôn chênh lệch một khoảng cách rất xa so với các trường ở vùng đồng bằng, thị xã, thành phố. Sự chênh lệch này phản ánh chất lượng giáo dục nền tảng ở cấp THCS và đặt ra thách thức lớn cho các trường THPT miền núi khi phải tiếp nhận một lượng học sinh đầu vào có kiến thức hổng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo bậc THPT.
Mặc dù đã có sự đầu tư mạnh mẽ, nhưng do điểm xuất phát thấp và địa bàn rộng lớn, tỷ lệ phòng học kiên cố một số nơi ở khu vực miền núi hiện nay vẫn còn thấp. Số lượng trường đạt chuẩn quốc gia tại các tỉnh miền núi đạt tỷ lệ rất thấp so với mặt bằng chung. Một số điểm trường vẫn trong tình trạng thiếu điện, thiếu nước sạch và mạng internet, gây khó khăn lớn cho việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy.
Các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục miền núi
Để khắc phục triệt để những khó khăn, hạn chế, tồn tại nêu trên và đưa giáo dục miền núi tiến kịp với tốc độ phát triển chung của cả nước, theo tôi cần phải thực hiện hệ thống các nhóm giải pháp một cách đồng bộ và quyết liệt.
Nhà nước cần tiếp tục ưu tiên phân bổ ngân sách trung ương, kết hợp lồng ghép hiệu quả các Chương trình mục tiêu quốc gia để tập trung đầu tư xây dựng cơ sở vật chất theo hướng kiên cố hóa chuẩn quy hoạch. Cần xóa bỏ dứt điểm các phòng học tạm, phòng học mượn. Việc đầu tư phải đi đôi với mua sắm, cung cấp đủ trang thiết bị dạy học hiện đại, máy tính, phòng thí nghiệm, phòng bộ môn, tạo điều kiện kỹ thuật cần thiết để giáo viên và học sinh phát huy hết khả năng giảng dạy và học tập. Bên cạnh nguồn lực nhà nước, các địa phương cần chủ động xây dựng cơ chế thông thoáng để huy động nguồn lực xã hội hóa, thu hút các quỹ thiện nguyện, doanh nghiệp đầu tư xây dựng trường lớp tại các địa bàn đặc biệt khó khăn.
Để giải quyết vấn đề thiếu giáo viên và tâm lý không an tâm công tác, cần xây dựng một hệ thống chính sách đãi ngộ mang tính đột phá: Có chế độ hỗ trợ ban đầu, phụ cấp thu hút thỏa đáng bằng tiền hoặc đất ở, nhà ở để khuyến khích các nhà giáo giỏi, sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc từ vùng đồng bằng tình nguyện lên công tác tại vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Chính quyền địa phương phải có trách nhiệm quy hoạch và bảo đảm đủ hệ thống nhà công vụ cho nhà giáo, có đầy đủ điện nước sinh hoạt, giúp thầy cô ổn định cuộc sống, yên tâm bám bản. Đảm bảo chi trả kịp thời, chính xác các khoản phụ cấp ưu đãi, phụ cấp thâm niên, phụ cấp thu hút theo đúng quy định pháp luật, không để xảy ra tình trạng chậm lương, chậm phụ cấp. Đối với học sinh, sinh viên, cần tiếp tục mở rộng và nâng mức cho vay của chính sách tín dụng học sinh, sinh viên phù hợp với chi phí sinh hoạt và học phí trong bối cảnh mới. Thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ chi phí học tập, miễn giảm học phí, cấp học bổng cho học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số ở những vùng đặc biệt khó khăn. Đổi mới quy trình và nâng cao chất lượng, gắn đào tạo với địa chỉ sử dụng sau tốt nghiệp. Có chính sách hỗ trợ việc làm, tạo đầu ra thích đáng cho sinh viên người dân tộc thiểu số sau khi tốt nghiệp đại học, cao đẳng quay trở về phục vụ quê hương.
Do đặc thù về đối tượng người học vùng cao (khả năng tiếp thu còn hạn chế do rào cản ngôn ngữ, điều kiện sống thiếu thốn), việc áp dụng các phương pháp sư phạm rập khuôn từ vùng thuận lợi sẽ hoàn toàn thất bại. Đòi hỏi các nhà trường và giáo viên phải áp dụng các giải pháp sư phạm đặc thù, mang tính nhân văn và phù hợp tâm lý học sinh vùng cao. Tiếng Việt là ngôn ngữ giao tiếp chung và là công cụ duy nhất để học sinh tiếp thu kiến thức các môn học. Vì vậy, các trường tiểu học phải coi việc dạy tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, đặc biệt là học sinh lớp 1, là nhiệm vụ cốt lõi, mang tính quyết định. Giải pháp cụ thể bao gồm: Tận dụng khoảng thời gian hè (trước khi vào lớp 1) để tổ chức các lớp chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ. Trong năm học, tăng thời lượng tiết học tiếng Việt, thiết kế các chương trình bổ trợ ngôn ngữ phù hợp. Triển khai triệt để mô hình dạy học 2 buổi/ngày tại tất cả các lớp có học sinh dân tộc thiểu số và các trường có tỷ lệ giáo viên đạt trên 1,2 giáo viên/lớp. Buổi thứ hai cần tập trung vào việc rèn luyện các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt thông qua các trò chơi ngôn ngữ, đọc sách truyện. Thiết kế Thư viện thân thiện, góc tiếng Việt trong và ngoài lớp học; khuyến khích học sinh giao tiếp bằng tiếng Việt trong các hoạt động vui chơi, sinh hoạt tập thể tại trường bán trú.
Muốn nâng cao chất lượng giáo dục, trước hết thầy cô giáo phải khơi gợi được niềm đam mê, hứng thú học tập cho các em, biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo. Giáo viên cần tuyệt đối tránh tư duy dạy học nhồi nhét, áp đặt kiến thức hoặc tạo áp lực bài vở quá lớn khiến học sinh sợ hãi, chán học và dẫn đến bỏ học. Thay vào đó, cần đa dạng hóa các hình thức dạy học: kết hợp kiểm tra kiến thức nhẹ nhàng với các hoạt động ngoại khóa, đố vui học tập, các trò chơi trí tuệ. Trong giảng dạy, cần tích cực đổi mới phương pháp theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và tự giác của học sinh; lấy những ví dụ gần gũi với đời sống, lao động sản xuất của địa phương để học sinh dễ hiểu, dễ tiếp thu. Học sinh vùng cao thường có tâm lý tự ti và dễ nản lòng khi gặp bài toán khó hoặc điểm số thấp. Do đó, giáo viên cần xây dựng hệ thống giải thưởng, danh hiệu thi đua mang tính ngắn hạn (theo tuần, theo tháng) thay vì chỉ có danh hiệu cuối năm. Việc đưa ra các danh hiệu như “học sinh chuyên cần”, “học sinh tiến bộ”, sẽ tạo ra các mục tiêu gần, vừa sức để học sinh phấn đấu. Nhà trường và giáo viên cần chú trọng việc biểu dương, khen thưởng kịp thời học sinh trước lớp, trước trường hàng tuần, hàng tháng nhằm động viên tinh thần, tạo cho các em niềm tự hào và động lực tâm lý tích cực để tiếp tục cố gắng. Song song với đó, nhà trường phải xây dựng kế hoạch chi tiết về phụ đạo học sinh yếu, kém (bằng sự kiên trì, tình thương của người thầy) và bồi dưỡng học sinh khá, giỏi để nâng cao mặt bằng chất lượng chung.
Thực hiện tốt công tác quy hoạch, kiện toàn đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu môn học. Trọng tâm chiến lược là phải chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng dần tỷ lệ giáo viên là người dân tộc thiểu số, người địa phương. Đội ngũ giáo viên bản địa chính là lực lượng cốt cận, có lợi thế tuyệt đối về ngôn ngữ và sự thấu hiểu văn hóa, có thể bám trụ lâu dài cùng bản làng mà không gặp phải những cú sốc về tâm lý hay môi trường sống. Đối với cán bộ, công chức, giáo viên người xuôi lên công tác tại vùng đồng bào dân tộc, chính quyền cần chỉ đạo, tổ chức bắt buộc và bài bản việc dạy tiếng dân tộc thiểu số địa phương, giúp họ xóa bỏ rào cản ngôn ngữ, nâng cao hiệu quả giao tiếp sư phạm và công tác dân vận. Cán bộ quản lý giáo dục (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng) tại các trường miền núi cần được bồi dưỡng năng lực quản trị nhà trường hiện đại, năng lực tự chủ và kỹ năng xử lý các tình huống đặc thù vùng cao. Cơ quan quản lý cần chú trọng đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra trường học theo hướng giảm thiểu thủ tục hành chính giấy tờ rườm rà, tập trung đi sâu vào tư vấn chuyên môn. Hoạt động kiểm tra phải mang tính chất giúp đỡ, tháo gỡ khó khăn cho giáo viên, tạo điều kiện để họ thực hiện nghiêm túc, linh hoạt quy chế chuyên môn, phù hợp với năng lực thực tế của học sinh trường mình, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo thực chất.
Nhà trường không thể đơn độc trong việc ngăn dòng học sinh bỏ học mà cần tăng cường chặt chẽ công tác phối hợp giữa Nhà trường với chính quyền địa phương, đặc biệt là Ban đại diện cha mẹ học sinh, Hội khuyến học, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ và các già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng. Hệ thống quản lý trường học cần thường xuyên tiến hành rà soát, lập danh sách học sinh có nguy cơ bỏ học, xác định rõ nguyên nhân cụ thể của từng trường hợp (do kinh tế, do học lực yếu, hay do hoàn cảnh gia đình). Từ đó, phân công cụ thể cho từng tổ chức, đoàn thể đến từng gia đình để tuyên truyền, vận động, thuyết phục cha mẹ học sinh ký cam kết đưa trẻ em trong độ tuổi ra lớp, đi học đều và không bỏ học giữa chừng. Để giúp cho học sinh đến trường, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và các tổ chức xã hội cần đẩy mạnh và duy trì thường xuyên cuộc vận động giúp bạn đến trường. Phong trào này cần tập trung quyên góp, hỗ trợ thiết thực bằng hiện vật như: áo ấm, chăn màn, sách, vở, đồ dùng học tập, xe đạp cho học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đảm bảo không để bất kỳ học sinh nào phải bỏ học vì thiếu ăn, thiếu mặc.
Đồng thời, các nhà trường cần triển khai sâu rộng cuộc vận động xây dựng mô hình “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Mô hình này hướng tới việc tạo ra một môi trường giáo dục an toàn, bình đẳng, đảm bảo tốt nhất cả về tinh thần và vật chất để học sinh luôn cảm thấy “mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Nhà trường cần tổ chức các hoạt động vui chơi, thể dục thể thao tích cực, phù hợp với lứa tuổi; lồng ghép các hoạt động gắn với cuộc sống văn hóa, tinh thần, các trò chơi dân gian, lễ hội truyền thống của địa phương vào chương trình giáo dục phổ thông. Điều này giúp học sinh vùng cao không cảm thấy trường học là một nơi xa lạ, mà là một không gian văn hóa gần gũi, nơi tôn trọng và phát huy các giá trị bản sắc của dân tộc các em. Bên cạnh nguồn lực hỗ trợ từ Trung ương, bản thân các địa phương cũng cần tự cân đối, dành một nguồn kinh phí phù hợp và tích cực huy động các nguồn lực xã hội hóa để nâng cấp cơ sở vật chất, tạo dựng một nền tảng vững chắc cho tương lai giáo dục miền núi phát triển bền vững.
Bùi Văn Dũng
Phó Chủ tịch Liên hiệp Trí tuệ Việt Nam
